YẾU TỐ TÂM LÝ PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Thay đổi trạng thái tâm lý -
Ảnh: www.usao.edu
Tác giả: NGUYỄN MINH ĐOAN 
PGS.TS, Giảng viên ĐH Luật Hà Nội
Nguồn: TẠP CHÍ KHPL SỐ 4/2004, 
truy cập tại đây
I. Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, là tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ lợi ích cho bản thân mình, cho nhà nước và cho xã hội, xử sự đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ xã hội.

Ý thức pháp luật được tạo nên bởi hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức pháp lý) và tâm lý pháp luật. Nếu hệ tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của các họat động tư duy lý luận, thì tâm lý pháp luật chỉ là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật, tinh thần và hành vi thực hiện pháp luật một cách tự phát nhiều hơn. Tâm lý pháp luật bị chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình độ nhận thức lý luận của cá nhân. Và ngược lại, tâm lý pháp luật là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các tư tưởng, quan điểm pháp luật phù hợp.

Tâm lý pháp luật chứa đựng trong nó những rung động về tâm hồn của con người đối với những hành vi được điều chỉnh bằng những tiêu chuẩn pháp lý như: niềm tin, sự trân trọng, định kiến, thù ghét, ác cảm.... Tâm lý pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ thể và góp phần nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, từ đó hình thành trách nhiệm của mỗi người với bản thân, với gia đình, lớn hơn nữa là với quê hương, nhân loại.

II. Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng yếu tố tâm lý pháp luật ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức. Việc củng cố nâng cao ý thức pháp luật thời gian qua chúng ta mới chỉ chủ yếu tập trung vào xây dựng hệ tư tưởng pháp luật nhiều hơn mà ít chú ý tới việc củng cố, định hướng để hình thành những thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp trong cán bộ và nhân dân. Do vậy, có thể nói hiện nay ý thức pháp luật ở nước ta đã được nâng cao một bước, nhưng tâm lý pháp luật trong cán bộ và nhân dân thì diễn biến còn khá phức tạp.

Tâm lý pháp luật là một hiện tượng tương đối bền vững, nó hình thành và biến đổi chậm chạp cùng với những truyền thống, thói quen của con người. Tính chất của nền kinh tế đất nước ta hiện nay cho thấy, phần đông dân cư ở nước ta đã và đang gắn bó với nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân tán, với những tập tục phức tạp, rườm rà, do vậy ý thức pháp luật của nhiều người dân còn thấp, một bộ phận dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí có một số người còn xem pháp luật như là một sự trói buộc, thường tìm cách trốn tránh, bất tuân pháp luật. Nếu nhìn lại lịch sử chúng ta thấy thái độ bất tuân pháp luật đã hình thành và phát triển từ rất lâu trong xã hội thực dân phong kiến. Khi đó pháp luật chủ yếu thể hiện ý chí và mang lại lợi ích cho thực dân, phong kiến, khi mà giữa nhà nước và nhân dân lao động luôn có sự đối lập nhau, thì người dân lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, không tuân theo pháp luật. Khi đó những tập tục của cộng đồng làng, bản..., nơi những người dân phải co cụm lại vì lợi ích cục bộ của cộng đồng và bản thân đôi khi còn quan trọng, được tôn trọng và thực hiện nghiêm hơn cả pháp luật của nhà nước thực dân phong kiến (phép vua, thua lệ làng).

Trong xã hội ta nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân còn “pháp luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân...”1 nên cả nhà nước và nhân dân cùng quan tâm tới việc thực hiện pháp luật nghiêm minh. Tuy nhiên, do tính chất bền vững của tâm lý pháp luật mà thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu, bám rễ trong ý thức của nhiều người; do vậy, trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi. Chẳng hạn, khi nhà nước đưa ra quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng, thì chỉ sau một thời gian ngắn đã có rất nhiều cá nhân, tổ chức gian dối lợi dụng để chiếm đoạt bất hợp pháp tiền bạc của nhà nước; thời kỳ nhà nước nghiêm cấm mua bán đất thì người ta nghĩ ngay đến việc che giấu mua bán đất dưới hình thức như mua bán nhà ở, cây lâu năm...; khi các trạm kiểm soát của cảnh sát giao thông hoạt động mạnh thì các lái xe đã liên kết với nhau, tìm cách thông báo cho về các trạm kiểm soát của cảnh sát đặt ở đoạn đường nào để đến đó thì họ nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông còn trước đó và sau đó thì họ tìm mọi cách vi phạm như chạy quá tốc độ, chở quá quy định... Cũng cần phải thừa nhận một thực tế là có những trường hợp chủ thể bất tuân pháp luật không nhằm mục đích vụ lợi mà chỉ nhằm để thoả mãn trạng thái tâm lý là “không ai làm gì được mình”, thậm chí chỉ là để “thể hiện mình” trước những người xung quanh.

Cũng do việc định hướng tình cảm pháp luật chưa tốt nên trong xã hội ta tâm lý ác cảm với cảnh sát, với người đại diện chính quyền vẫn còn tồn tại. Thậm chí có trường hợp khi cảnh sát xử lý hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân nào đó thì một số cá nhân khác lại ủng hộ, bênh vực, giúp đỡ kẻ vi phạm, tạo điều kiện cho kẻ vi phạm trốn tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Những kẻ ủng hộ này thường là đồng bọn của kẻ vi phạm hoặc là những kẻ xưa nay vẫn vi phạm pháp luật nhưng không bị phát hiện hoặc không bị xử lý. Một số người dân tuy không ủng hộ việc làm sai trái đó nhưng lại thờ ơ, không ủng hộ việc làm đúng của cảnh sát, không ủng hộ cái đúng và như vậy, vô hình trung họ đã tạo điều kiện để cái sai, cái xấu vẫn tồn tại và hoành hành trong xã hội. Nhưng khi cái xấu có liên quan đến họ thì họ lại ra sức trách móc, trông chờ sự giúp đỡ người khác đặc biệt là của cảnh sát hoặc chính quyền. Việc tác động để hình thành những tình cảm, xúc động đúng đắn đối với pháp luật, đối với hành vi của những người thừa hành pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong phòng ngừa những hành vi không phù hợp, trái với chuẩn mực xã hội, chuẩn mực pháp luật trong xã hội.

Trong nhiều hoạt động nhà nước ở nước ta vẫn còn biểu hiện của tâm lý cửa quyền, muốn được cầu cạnh, ban phát theo kiểu “con không khóc thì mẹ không cho bú” và đứa con nào khóc to, biết cách khóc, khóc hay thì sẽ được bú nhiều. Chính thói quen tâm lý này đã góp phần tạo ra trong xã hội ta cơ chế “xin - cho”, mọi thứ đều phải “xin” thì mới được những người đại diện nhà nước “cho”. Cơ chế “xin - cho” đã làm mất đi tính chủ động phục vụ nhân dân của những người có chức vụ, quyền hạn. Rất nhiều kẻ gian tham đã lợi dụng cơ chế “xin - cho” để vụ lợi, chúng coi tài sản nhà nước như “một thứ tự nhiên mà có” xin được càng nhiều càng tốt, tìm mọi mánh khóe để cậy cục xin, ỷ lại, trông chờ vào việc xin. Kẻ được cho thì coi tài sản nhà nước như là của mình, mình ban ơn, mình cho ai thì người đó được hưởng. Và không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tài sản, cơ chế “xin - cho” còn lan sang cả các lĩnh vực khác như công tác thi đua khen thưởng, công tác tổ chức cán bộ... gây ra dư luận không tốt trong nhân dân. Chính cơ chế “xin - cho” đã làm cho người có thẩm quyền áp dụng pháp luật tùy tiện mà người bị áp dụng pháp luật cũng tự do, tuỳ tiện, theo kiểu bất tuân các quy định của pháp luật. Người có thẩm quyền áp dụng pháp luật thì cho rằng đó là “quyền của mình”, mình muốn làm gì thì làm, mình cho, mình làm ơn thì người dân được hưởng, được nhờ còn mình không cho, không làm thì người dân phải cậy cục nhờ vả, van xin... hoặc là nếu là người thân quen thì xử lý khác, còn người không thân quen thì xử lý khác.... Nhiều chủ thể bị áp dụng pháp luật đã coi thường, không chấp hành quyết định áp dụng pháp luật, với tâm lý “làm gì nhau” và nếu gặp trường hợp thiếu kiên quyết, “đánh trống bỏ dùi”, thiếu triệt để của các cơ quan nhà nước thì chẳng sao cả, càng làm cho tâm lý thách thức, coi thường người đại diện chính quyền tăng lên trong xã hội.

Tâm lý tuỳ tiện tiểu nông còn thể hiện ở việc chấp hành thời gian lao động, sinh hoạt, hội họp. Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà hầu hết các cuộc họp, hội thảo, hội nghị, ngày làm việc đã không được thực hiện đúng giờ. Để đảm bảo thời gian chính xác trong lao động nhiều cơ quan, đơn vị nhất là các đơn vị sản xuất, kinh doanh đã phải áp dụng các biện pháp thưởng phạt về vật chất rất nghiêm khắc mới có thể khắc phục được hiện tượng đi muộn, về sớm của một số người. Tuy nhiên, hiện tượng tuỳ tiện về thời gian trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp thì hầu như chưa được khắc phục, vì tâm lý “chẳng chết ai” và “không ảnh hưởng gì ghê gớm lắm”. Hiện tượng đi muộn trong nhiều cơ quan, đơn vị lại chính là những người có chức vụ, quyền hạn, người chủ trì, chủ toạ các cuộc hội họp hoặc là những đại biểu cấp trên được mời tham dự. Hình như những người này tự coi là mình được quyền đến muộn hoặc có đến sớm thì cũng vào phòng chậm, muộn hơn những người khác. Điều đó như là để thoả mãn tâm lý là họ “quan trọng hơn người khác”, chưa có họ là chưa bắt đầu được. Đối với một số người đến muộn thậm chí còn để thể hiện sự “oai phong của mình”, nhiều trường hợp người đến muộn còn được “vỗ tay chào đón”, do vậy một số người cố ý đến muộn hoặc cố ý vào muộn chứ không phải vì những lý do nào khác.

Trong đời sống sinh hoạt và lao động nhiều khi người dân do không hiểu biết đầy đủ pháp luật dẫn đến tâm lý thiếu tự tin trong các hoạt động, làm cho hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Điều này, một mặt làm giảm khả năng của người dân trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, mặt khác có thể góp phần làm tăng khả năng khiếu kiện bừa bãi, không đủ căn cứ, không đúng thủ tục... dẫn tới bất ổn định xã hội. Tình trạng kém hiểu biết về pháp luật cũng dễ tạo nên tâm lý thờ ơ, lãnh đạm, thậm chí coi thường pháp luật, dẫn đến người dân có những hành vi xử sự không đúng với quy định của pháp luật.

Ở nước ta có thời kỳ do công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị được chú trọng hơn so với tuyên truyền, giáo dục pháp luật đã dẫn đến hiện tượng người dân Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, từ cán bộ đến người dân bình thường luôn có sự quan tâm đến chính trị, đến tình hình thế giới nhiều hơn là quan tâm đến pháp luật của chính đất nước mình, những quy định pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của chính mình.

Thời gian qua công việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua xét xử đã bước đầu được chú trọng, góp phần tạo nên niềm tin của nhân dân vào các quyết định của toà án, nhưng nếu nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc thì công viêc này chưa được chú trọng ở tất cả các cấp tòa án và trong một toà án thì chưa được tất cả các thẩm phán, hội thẩm nhân dân quan tâm đúng mức. Khi xét xử, hội đồng xét xử mới chỉ chú ý đến việc giải quyết việc cụ thể, do ít chú ý đến mục đích giáo dục, nên nhiều trường hợp không phổ biến các quy định của pháp luật, không giải thích cặn kẽ các quy định của pháp luật, do vậy tính thuyết phục, sự giáo dục của các quyết định áp dụng pháp luật chưa cao. Ngôn ngữ sử dụng của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với những người dân có liên quan đôi khi còn chưa phù hợp, thậm chí mang tính miệt thị, đay nghiến hay nạt nộ, không thể hiện được thái độ tôn trọng, không đảm bảo tính công bằng, dân chủ của pháp luật, và thường là ngôn ngữ mang tính xã hội, tính gia đình (với sự phân tầng đẳng cấp, trên dưới) ít mang tính công sở, tính pháp lý… chưa đúng với văn hoá pháp lý hiện đại. Kể cả tâm lý thiếu tôn trọng của cán bộ cấp trên đối với cấp dưới, của cán bộ đối với nhân dân. Do vậy, những người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan nhà nước trước hết hãy tôn trọng cấp dưới, tôn trọng nhân dân tức cũng có nghĩa là tôn trọng chính mình, khi đó cũng sẽ được những người khác tôn trọng thực lòng, chứ không “bị buộc phải tôn trọng”.

Mặc dù không nói ra, nhưng thông qua những cách nghĩ, cách làm của nhiều cán bộ, công chức cho chúng ta thấy tâm lý “trừ mình ra”, “mình phải hơn người khác” hơn ở đây là về mặt lợi ích được hưởng nhiều hơn, còn về nghĩa vụ, trách nhiệm, thì chỉ phải thực hiện ít hơn hoặc không phải thực hiện, “mình được quyền như thế” đã ăn sâu bám rễ vào nhiều thế hệ cán bộ, công chức của chúng ta do ảnh hưởng của chế độ quan lại thời kỳ phong kiến trước kia và của một số vị “quan cách mạng sau này”. Vì thế, ngành nào, lĩnh vực nào cũng tự đặt ra cho mình những đặc quyền, đặc lợi mà họ cho rằng mình xứng đáng hoặc đương nhiên phải được hưởng. Điều này đã làm mất đi yếu tố tự đánh giá cá nhân là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng của tâm lý pháp luật, thể hiện thái độ của mỗi người đối với hành vi của mình. Do thiếu đi sự tự đánh giá cá nhân cần thiết nên trong nhiều cán bộ, công chức những cảm xúc như tự hào, buồn lo, xấu hổ... gần như cũng không có. Họ không hề thấy xấu hổ đối với những hành vi cửa quyền, nhận hối lộ, tham nhũng của mình. Đây là một hiện tượng vô cùng nguy hại cho các hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Trong cuộc sống hiện nay người ta nói nhiều đến đạo đức của mọi ngành, mọi nghề. Song cần chú ý đến đạo đức người quản lý, lãnh đạo mà khi đương thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường căn dặn cán bộ, công chức khi đó là “ Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta...”2. Thực tiễn ở nước ta vừa qua, việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của người dân, những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp là việc làm có lợi cho dân, cho nước thì lại thường bị các cơ quan, những người có trách nhiệm “hết sức tránh” bằng cách đùn đẩy trách nhiệm cho nhau thông qua việc “kính chuyển”, “kính gửi” vòng vo. Như vậy, sự xúc động, lương tâm con người của họ gần như không còn, họ im lặng, vô cảm trước những yêu cầu bức xúc của người dân hoặc của các doanh nghiệp. Có thể nói sự quan liêu, vô cảm của các cơ quan, các cán bộ, công chức nhà nước đối với đời sống nhân dân và sự phát triển của đất nước là hiện tượng còn nguy hại hơn nhiều so với những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước.

Như vậy, từ những trạng thái tâm lý tưởng như rất nhỏ, vặt vãnh, ít ai để ý đến nhưng chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc của bộ máy nhà nước, đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt của một xã hội công nghiệp, văn minh và hiện đại. Trong tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập đời sống xã hội nói chung, đời sống pháp luật nói riêng ngày càng trở nên phức tạp hơn, trong xã hội đã xuất hiện rất nhiều tư tưởng, quan điểm pháp luật mới đòi hỏi những tình cảm, thái độ của con người đối với pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật cũng phải có những thay đổi cho phù hợp.

Việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp và tạo dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng đắn là việc làm vô cùng khó khăn hiện nay, bởi tính chất bền vững, bám rễ của yếu tố tâm lý trong ý thức của mỗi người trong chúng ta. Nó đòi hỏi sự kiên trì, quan tâm đúng mức của đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội và mỗi người dân trong xã hội ta vì một xã hội văn minh, hạnh phúc.

III. Để có những đổi mới tích cực trong tâm lý pháp luật ở nước ta hiện nay theo chúng tôi trước hết cần tạo ra những cơ chế, chính sách đúng đắn, kiên quyết sửa đổi hoặc loại bỏ một số cơ chế, chính sách không còn phù hợp, những chính sách dễ bị lợi dụng, dễ phát sinh ra hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Triệt để hơn nữa trong việc xoá bỏ cơ chế “xin- cho” trong các hoạt động nhà nước, từng bước chuyển bộ máy nhà nước sang cơ chế phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước phải “đều là công bộc của dân,..gánh việc chung cho dân...”3

Kiên quyết loại bỏ những cán bộ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân. Cương quyết và triệt để hơn nữa trong đấu tranh, xử lý các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật cho dù người vi phạm là bất cứ ai. Tình trạng nhân nhượng, nể nang của một số cơ quan chức năng và cán bộ, công chức nhà nước trong việc bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự pháp luật nhất là cách giải quyết “phạt, cho tồn tại” chính là những yếu tố góp phần tạo ra tâm lý chây, ỳ, thách thức chính quyền, khinh nhờn dư luận của một số ít kẻ bất tuân pháp luật. Không có sự phát triển nào lại không phải trả giá, để có được sự tự giác chấp hành pháp luật nghiêm minh nhiều trường hợp xuất phát từ những bài học đắt giá mà chủ thể hoặc xã hội đã phải trải qua. Theo chúng tôi Đảng, Nhà nước và xã hội đã đến lúc phải chấp nhận những sự hy sinh cần thiết nhất định, kiên quyết xử lý nghiêm khắc những kẻ thoái hóa biến chất, bất kể người đó là ai để tạo ra một trật tự, kỷ cương đảm bảo cho xã hội phát triển nhanh và bền vững. Không thể chấp nhận được hiện tượng dân chủ quá trớn, lời nói và việc làm không đi đôi với nhau, cản trở tiến trình phát triển đất nước của một số cá nhân.

Xây dựng một nền hành chính trong sạch và hiệu qủa, nền hành chính phục vụ nhân dân. Người dân đóng thuế để nuôi bộ máy nhà nước, do vậy, bộ máy nhà nước phải có nghĩa vụ, trách nhiệm phục vụ nhân dân. Củng cố tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật, với quá trình thực hiện và bảo vệ pháp luật. Tất cả cán bộ, công chức và mỗi người dân không những phải hiểu biết pháp luật mà còn phải có thói quen “sống, làm việc theo pháp luật”. Muốn tạo ra thói quen sống, làm việc theo pháp luật trước hết phải bắt buộc, nói cách khác khi đầu là bắt buộc dần dần mới thành thói quen, để có được thói quen, sự tự giác, lúc đầu cần phải nghiêm khắc, thậm chí là rất nghiêm khắc. Lênin đã từng nhấn mạnh: “Nếu không rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tư bản, người ta sẽ tức khắc có thể làm việc cho xã hội mà không cần phải có tiêu chuẩn pháp luật nào cả, hơn nữa, việc xoá bỏ chủ nghĩa tư bản không thể đem lại ngay được những tiền đề kinh tế cho một sự thay đổi như vậy”4. Đành rằng giáo dục, thuyết phục là quan trọng, nhưng sau khi đã giáo dục, thuyết phục, đã giải quyết có tình, có lý mà vẫn không thực hiện thì cần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cứng rắn một cách cương quyết, triệt để. Kinh nghiệm của một số trường hợp giải phóng mặt bằng và lập lại trật tự trong lĩnh vực giao thông thời gian qua đã cho thấy cần phải cương quyết cứng rắn hơn nữa. Cha ông ta đã có câu “mềm nắn, rắn buông”, việc Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nền dân chủ rộng rãi trong các hoạt động nhà nước và xã hội không có nghĩa là thiếu đi những biện pháp cương quyết, cứng rắn khi cần thiết vì lợi ích của cả cộng đồng. Tất nhiên để cương quyết được thì trước hết các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách phải giải quyết, quyết định các vấn đề một cách thấu tình, đạt lý, vô tư, không thiên vị, vì lợi ích chung theo tinh thần “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”.

Tóm lại, nâng cao ý thức pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền là vô cùng quan trọng. Bởi nếu ý thức pháp luật thấp thì khó có thể xây dựng và hoàn thiện được một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả cao được. Việc nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay không nên chỉ chú ý tới việc xây dựng, hoàn thiện những tư tưởng quan điểm pháp lý mà còn cần phải chú trọng cả tới việc hình thành thái độ, tình cảm, cảm xúc pháp lý phù hợp, đúng đắn; có như vậy thì việc điều chỉnh pháp luật mới thực sự có hiệu quả cao.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi chúng ta không chỉ có chủ trương, chính sách đúng mà còn cần phải chuẩn bị những con người có trí tuệ, thông minh, có trình độ chuyên môn cao, có thói quen và ý thức sống, làm việc, lao động theo pháp luật, đồng thời phải có tâm lý pháp luật đúng đắn, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hạnh phúc.
-------


1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật Hà Nội 1987, tr. 120.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995 trang 56-57.

3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1995 tr. 56.

4. V. I. Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ Matxcova 1976, tr. 116.

17:19 | Posted in , | Read More »

BẢN CHẤT VÀ NGUỒN CỦA LUẬT HỒI GIÁO

Tác giả: ĐỖ THỊ MAI HẠNH*
 ThS. Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh  
TẠP CHÍ KHPL SỐ 3(34)/2006, truy cập tại đây
Tỷ lệ số dân theo Đạo Hồi trên thế giới - Ảnh: Wikipedia

Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp luật cùng tồn tại. Đó là hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Thông luật, hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật Tôn giáo (hay còn gọi là hệ thống Luật Hồi giáo). So với các hệ thống pháp luật khác, hệ thống Luật Hồi giáo luôn là một bí ẩn đối với giới luật gia. Hiện nay, ở Việt Nam, các thông tin về nguồn gốc và đặc điểm nguồn luật của hệ thống pháp luật này qua các tài liệu còn tương đối hiếm và không thống nhất. Vì vậy, trong bài viết, tác giả muốn giới thiệu thật cô đọng về hệ thống Luật Hồi giáo, đặc biệt là xác định bản chất và nguồn của hệ thống pháp luật này.

I. Về bản chất của Luật Hồi giáo 
Trước hết cần hiểu đúng về Đạo Hồi và Luật Hồi giáo. Cũng như Đạo Phật, Đạo Chúa,... Đạo Hồi là một tín ngưỡng tôn giáo. Đạo Hồi khuyên các tín đồ sống, làm việc thiện để sau này có một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc ở cõi vĩnh hằng. Các tín đồ theo Đạo Hồi phải thực hiện những nghĩa vụ như: ăn chay, cầu nguyện, bố thí, hành hương và sống theo những lời răn dạy của thánh Alla trong Kinh Qu’ran (Koran).[1] Nếu làm được như vậy, họ sẽ có một cuộc sống vĩnh hằng hạnh phúc ở thiên đường.
Luật Hồi giáo, theo nghĩa gốc bằng tiếng Arập được phiên âm sang tiếng Latinh, là Luật Shari’ah - nghĩa là con đường đúng” (the right path) hoặc là sự hướng dẫn (guide)[2]. Đây các quy phạm tôn giáo được nâng lên thành quy phạm pháp luật được các quốc gia trong hthống Luật Hồi giáo (điển hình như Afghanistan, Pakistan, Kowait, Bahrain, Quatar, Arập Xêut)[3] áp dụng để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong xã hội.
Hai yếu tố cơ bản, tiên quyết để xác định một quốc gia thuộc hthống Luật Hồi giáo bao gồm: Đạo Hồi là quốc đạo của quốc gia, quốc gia lấy các quy định trong Kinh Thánh của Đạo Hồi làm luật. Chính vì vậy Thổ Nhĩ Kỳ, dù là nước có Đạo Hồi là quốc đạo, nhưng vẫn là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa vì ở quốc gia này Đạo Hồi chỉ được coi là tôn giáo[4] chứ không phải là luật.
Đặc điểm mấu chốt của sự khác biệt giữa hệ thống Luật Hồi giáo với các hệ thống pháp luật thế giới khác là ở các quốc gia áp dụng Luật Hồi giáo không có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước (church and state). Ở đây, chính trị thần quyền (chế độ cai trị của các tăng lữ, trong đó các luật lệ của nhà nước được tin tưởng là luật lệ của Chúa Trời) bao trùm và điều chỉnh các vấn đề mang tính chất công và tư. Cũng chính từ học thuyết này, Shari’ah là luật Thánh Alla ban hành, không biến đổi và được nhà nước áp dụng cho mọi thời đại; nói khác đi, nhà nước, luật pháp và tôn giáo chỉ là một. Khái niệm này có thể hiểu ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia, nhưng luật pháp, chính quyền đều dựa vào khái niệm đó và là một phần của tôn giáo Đạo Hồi[5].
Hiện nay có trên 1.2 tỉ người theo Đạo Hồi (chiếm khoảng 20% dân số thế giới).[6] Đa số những người theo Đạo Hồi sống ở hơn 50 quốc gia có luật pháp là Luật Hồi giáo hoặc ảnh hưởng chủ yếu bởi Luật Hồi giáo.[7] Số còn lại, là các tín đồ của Đạo Hồi nhưng sống ở những quốc gia chỉ coi Đạo Hồi thuần túy là một hình thức tôn giáo. Tuy không thể nói một cách chính xác có bao nhiêu người thực sự bị ảnh hưởng bởi Luật Hồi giáo, nhưng rõ ràng đó là một con số đáng kể. Do đó hthống Luật Hồi giáo bao gồm những quốc gia theo Luật Hồi giáo, cũng là một hệ thống pháp luật thế giới lớn, tồn tại và phát triển và tương tác cùng các hthống pháp luật thế giới khác. 
II. Về nguồn của Luật Hồi giáo
Như đã đề cập ở trên, Luật Hồi giáo chính là Luật Shari’ah. Luật này điều chỉnh, đưa ra nguyên tắc và quy định hành vi của người dân, hoạt động của các cơ quan tổ chức, đưa ra các quy phạm để áp dụng trong đời sống của một con người như: ăn kiêng, cách nuôi dạy con cái, đồng thời cũng quy định và miêu tả những nguyên tắc dành cho người tu hành, việc bố thí cho người nghèo và những vấn đề tôn giáo khác. Bên cạnh đó Luật Shari’ah cũng được sử dụng như những hướng dẫn đối với các hoạt động của con người trong xã hội cũng như đối với những tác động qua lại giữa các nhóm dân tộc. Ở phạm vi rộng hơn, Luật Shari’ah được áp dụng để giải quyết những tranh chấp trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau, đồng thời giải quyết những tranh chấp, xung đột quốc tế và vấn đề chiến tranh[8]. Do đó nguồn luật của Luật Hồi giáo cũng chính là các thành tố của Luật Shari’ah. Luật này gồm 4 thành tố sau: Kinh Qu’ran (hay còn gọi là Koran), Kinh Sunna, Idjmá và Qiyás.[9]
Thành tố đầu tiên mang tính chất chủ đạo của Luật Hồi giáo là Kinh Qu’ran. Đây cũng là nguồn luật với những quy định mang giá trị chung thẩm khi được áp dụng[10]. Kinh Quran là nguồn luật cao nhất của Luật Hồi giáo, được coi là những lời của Thánh Alla tiết lộ cho tiên tri Muhammed (570-632)[11]. Sự hình thành và phát triển của Quran với tư cách vừa là Kinh Thánh vừa là luật xuất hiện ban đầu bởi sự truyền đạo của nhà tiên tri (Prophet) Mohammad tại thành phố Madinah, sau đó đã đồng loạt xuất hiện ở mọi nơi cùng với sự gia tăng những tín đồ của Đạo Hồi. Nhà tiên tri vừa là chỗ dựa tinh thần vừa là người tạm thời đứng đầu cộng đồng. Về cấu trúc Kinh Quran được chia thành 30 phần và 114 chương và được sắp xếp theo ý của nhà tiên tri[12] . Các chương lại chia nhỏ thành 6.200 khổ thơ (verse), các luật gia Đạo Hồi gọi chúng là “Những khổ thơ pháp luật”[13]. Chỉ có khoảng 3% các khổ thơ đó là liên quan đến pháp luật. Ví dụ, Luật Gia đình được quy định trong khoảng 70 khổ thơ; các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực luật tư khác được quy định trong 70 khổ thơ; khoảng 30 khổ thơ được coi là đặc trưng cho Luật Hình s; các vấn đề về tài chính và hiến pháp thì được đề cập trong khoảng 20 khổ thơ; các vấn đề liên quan đến Luật Quốc tế thì cũng được quy định trong khoảng 20 khổ thơ[14].
Cách thức thể hiện những điều răn dạy và điều cấm trong Kinh Qu’ran bao giờ cũng theo cùng một công thức: điều răn dạy đều bắt đầu bằng lời giới thiệu, sau đó kết thúc bằng một lời cấm đoán. Đơn cử như điều răn sau[15]:
Đoạn đầu tiên, lời giới thiệu là: Người dân hỏi nhà tiên tri về rượu và bài bạc. Hãy nói rằng, cả hai thứ đó đều xấu xa, dù rằng nó có một thuận lợi nào đó cho đàn ông, nhưng sự xấu xa của nó thì to lớn hơn sự thuận lợi đó nhiều lần”.
Đoạn thứ hai, lời giới thiệu hướng đến điều cấm đoán:Hỡi những tín đồ, không được cầu nguyện khi người đang say”.
Đoạn thứ ba, lời giới thiệu đã chuyển thành điều cấm hoàn toàn: Hỡi những tín đồ, uống rượu và chơi cờ bạc là những hành động xấu xa, là công việc của quỷ dữ, vì vậy phải tránh xa nó”.
Trong Kinh Quran, tín ngưỡng tồn tại bên cạnh một số nguyên tắc pháp lý và hầu hết các nguyên tắc pháp lý liên quan đến luật gia đình (kết hôn, ly dị và thừa kế), một số liên quan đến Luật Hình sự (ngoại tình, vu khống, uống rượu), một số liên quan đến hợp đồng (hình thức hợp đồng, phương thức thanh toán), một số liên quan đến vấn đề pháp luật về tài chính, hiến pháp, tòa án, tranh chấp quốc tế... Các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nghi lễ, nghi thức và luật pháp rất ngắn gọn trong Quran và hầu như mang tính nguyên tắc, không cụ thể. Hơn thế nữa, vẫn có một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa được đề cập. Vì vậy, về nguyên tắc, vẫn rất cần sự giải thích và mô tả từ nhà tiên tri, hay nói cách khác, bên cạnh Kinh Qu’ran vẫn cần có nguồn luật bổ trợ; đây chính là tiền đề để nguồn luật quan trọng thứ hai của Luật Hồi giáo ra đời, đó là Kinh Sunna.
Kinh Sunna chứa đựng những lời dạy bảo của tiên tri Mohamed và những giai thoại, những câu chuyện (gọi là Hadith) về nhà tiên tri và các tín đồ của mình đã sống một cuộc sống phù hợp với trật tự tôn giáo được quy định trong Kinh Qu’ran[16]. Những câu chuyện và giai thoại đó đã chi tiết hóa những vấn đề được đề cập mang tính nguyên tắc, hoặc chưa rõ ràng trong Kinh Qu’ran. Cuộc sống của Mohamad và tín đồ của ông dần được xem là khuôn mẫu cho cuộc sống của người dân trong xã hội. Nội dung của Sunna gồm 3 loại: lời nói của tiên tri về tôn giáo; hoạt động và hành vi của nhà tiên tri và sự chấp nhận của tiên tri đối với một số hành vi nhất định của con người. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong một chừng mực nhất định, các nguyên tắc của Đạo Hồi, Luật Hồi giáo cũng được rút ra từ nguồn Sunna này. Bởi vì Quran nhìn chung chỉ giải quyết những nguyên tắc lớn về pháp luật, những vấn đề cốt yếu về tôn giáo và đi sâu vào chi tiết một số ít trường hợp. Điển hình như: Kinh Qu’ran cấm uống ruợu, nhưng lại không nói gì về chế tài đối với hành vi này; chế tài này lại được tìm thấy trong Kinh Sunna bằng việc miêu tả rằng nhà tiên tri đã ra chế tài và bản thân ông là người thực thi hình phạt đánh roi đối với hành vi uống rượu này[17]. Như vậy, Kinh Sunna đã chi tiết hóa những vấn đề đó bằng lời giải thích và hành động của nhà tiên tri và của những tín đồ ngoan đạo đi theo ông.
Khác biệt hẳn so với Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật của Luật Hồi giáo mang tính thần thánh, tự nhiên thì thành tố thứ ba của Luật Hồi giáo là Idjimá lại được ra đời trên cơ sở sự thống nhất về quan điểm pháp luật của các học giả pháp lý Đạo Hồi[18]. Những vấn đề mà các nhà học giả pháp lý Đạo Hồi bàn luận là những vấn đề về con người và cả chính trị nữa. Khi những vấn đề đó đạt được sự thống nhất, chúng được giải thích là Idjimá. Những khái niệm và ý kiến trong Idjimá thì không tìm thấy trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna. Đơn cử như một quy định được đề cập trong Idjimá, phụ nữ không thể trở thành thẩm phán. Quy định này không hề được đề cập trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna mà lại được rút ra từ quan điểm thống nhất của các học giả pháp lý Đạo Hồi.[19] Trong thực tiễn, các thẩm phán có thể kiểm tra trong Idjmá để tìm kiếm nhiều giải pháp khả thi để áp dụng trong xã hội hiện đại. Và họ hoàn toàn tự do sáng tạo phương pháp mới để giải quyết các vấn đề tội phạm và vấn đề xã hội dựa trên cơ sở những quan điểm được đề cập trong Idjimá. Do vậy thẩm phán có quyền quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào trong Idjmá để giải quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.
Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, là án lệ được tuyên bởi thẩm phán cấp cao[20]. Nói một cách khác, Qiyas có thể gọi là “phương pháp suy xét theo sự việc tương tự”[21]. Các thẩm phán của các nước theo Luật Hồi giáo có thể sử dụng tiền lệ pháp đó để giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà hướng giải quyết vụ việc đó không được đề cập trong Kinh Qu’ran, Kinh Sunna và Idjmá. Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần mềm máy tính, trong Kinh Qu’ran và Sunna không đề cập đến loại tội phạm này. Hành vi này là cần thiết bị cấm nên thẩm phán phải dựa trên lý lẽ và logic để sáng tạo ra án lệ, hay còn gọi là Qiyas.
Vậy ở các nước theo Luật Hồi giáo có tồn tại nguồn luật là các văn bản pháp luật hay không? Có thể nói rằng, có văn bản pháp luật ở các quốc gia theo Luật Hồi giáo cũng như việc có tồn tại án lệ trong hệ thống pháp luật của những quốc gia này. Nhưng đây là sự chuyển hóa những quan điểm pháp luật, ý kiến pháp luật được thống nhất bởi các học giả pháp lý Đạo Hồi vào các văn bản pháp luật[22]. Và sự chuyển hóa này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 19, thời điểm lịch sử các quốc gia theo Luật Hồi giáo có một sự thay đổi rất lớn lao, khi các quốc gia Phương Tây tăng cường quyền lực toàn cầu và chinh phục một phần rộng lớn của thế giới, trong đó có các vùng lãnh thổ của Luật Hồi giáo[23].
Như vậy có thể khẳng định rằng những quốc gia nằm trong hệ thống Luật Hồi giáo là những quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội bằng Luật Shari’ah - hay còn gọi là Luật Hồi giáo. Luật này bao gồm bốn thành tố, nói khác đi là bốn nguồn luật: Kinh Qu’ran, Kinh Sunna, Idjmá và Qiyas; trong đó Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật chủ đạo nhất, có giá trị pháp lý cao nhất đồng thời thể hiện là nguồn luật mang tính thần thánh và tự nhiên, còn Idjmá và Qiyas đóng vai trò là nguồn luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Luật Hồi giáo và là nguồn luật thể hiện cho sự điều chỉnh pháp luật bằng việc kết hợp những tư tưởng thần thánh tự nhiên với lý trí và sự thông thái của con người.



[1] Lê Phụng Hoàng chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, năm 2000, tr. 73 - 74.
[2] Michael Bogdan, Comparative Law, Nxb Kluwer Law and Taxation, năm 1994, tr. 227.
[3] Réne David (Người dịch: Nguyễn Sĩ Dũng và Nguyễn Đức Lâm), Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr . 341.
[4] Michael Bogdan, sđd, tr. 228.
[5] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[6] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[7] Michael Bogdan, sđd, tr . 220.
[8] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[9] Các nguồn này được thừa nhận thống nhất bởi nhiều nhà nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 221 - 223) và Réne David (sđd, tr. 342 - 345).
[10] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[11] Michael Bogdan, sđd, tr. 221.
[12] Dr. Ahmad A. Galwash, Handbook of Muslim Belief, năm 2001, tr. 169.
[13] Réne David, sđd, tr. 343.
[14] Michael Bogdan, sđd, tr. 221.
[15] Dr. Ahmad A. Galwash, sđd, tr. 166.
[16] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[17] Michael Bogdan, sđd, tr. 222.
[18] Về điểm này có được sự thống nhất của các nhà nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 222) và Réne David (sđd, tr. 344) và cũng là ý kiến được trình bày trong trang web http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm.
[19] Michael Bogdan, sđd, tr. 222.
[20] http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm
[21] Réne David, sđd, tr. 345.
[22] http://en.wikipedia.org/wiki/Sharia
[23] http://en.wikipedia.org/wiki/Sharia

16:51 | Posted in , , | Read More »

LUẬT TỤC Ê ĐÊ: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA PHÁP LÝ

Ảnh: Lễ cúng bến nước người Ê đê, Nguồn VOV
Tác giả: VŨ THỊ BÍCH HƯỜNG
ThS. Giảng viên ĐH Luật TP.HCM
Nguồn: Tạp chí khoa học pháp lý, Số 2/2001, truy cập tại đây


Trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn phản ánh khả năng nhận thức và trình độ phát triển của một dân tộc. Ở nước ta hiện nay, bên cạnh hệ thống pháp luật thực định đang ngày càng được hoàn thiện vẫn còn tồn tại luật tục của các buôn làng người thiểu số, mà giá trị hiện thực của nó trong việc đảm bảo sự ổn định các quan hệ xã hội trong một cộng đồng người là điều không thể phủ nhận. Nếu hệ thống pháp luật thực định phản ánh trình độ văn hóa pháp lý của một cộng đồng người sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia thống nhất, thì luật tục lại phản ánh văn hóa pháp lý của một dân tộc – một bộ phận hợp thành khối dân cư thống nhất ấy. Trong bài viết này, chúng tôi nêu một số suy nghĩ về luật tục Ê Đê nhìn từ góc độ văn hóa pháp lý.


Ê Đê là cộng đồng người thống nhất về ý thức dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa, là một dân tộc thiểu số bản địa ở Đaklak có trình độ phát triển và nền văn hóa tiêu biểu cho Đakalk. Trong các bản trường ca, nổi bật nhất là trường ca Đam San, cũng như trong đời sống hàng ngày, người Ê Đê đã khắc họa nên những trang sử hào hùng của dân tộc mình trong việc đánh giặc, đuổi cướp giữ buôn làng, giữ bến nước của ông bà, cha mẹ. Từ lâu, người Ê Đê đã sống quần cư trong những ngôi nhà dài. Mỗi nhà dài gồm nhiều gia đình, nhiều hộ, cùng là anh chị em ruột một dòng họ với nhau theo chế độ mẫu hệ. Hôn nhân cư trú bên vợ, con cái sinh ra mang họ mẹ. Đứng đầu đại gia đình là Khoa sang, đó là người đàn bà cao tuổi và có uy tín nhất, đứng ra trông nom tài sản, hướng dẫn sản xuất, điều hòa quan hệ giữa các thành viên, thay mặt đại gia đình quan hệ với xã hội. Một dòng họ nhỏ có thể cư trú trong một ngôi nhà dài. Một dòng họ lớn gồm nhiều nhà dài. Nhiều dòng họ làm thành một Buôn – cộng đồng tiêu biểu cho toàn xã hội.
 
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã hội Ê Đê vẫn đang ở vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thủy. Tuy đã bắt đầu có sự phân hóa giàu nghèo, nhưng trong xã hội, các quan hệ sở hữu tập thể, của dòng họ và của cả buôn còn chi phối sâu sắc. Hình thức sản xuất chủ yếu là săn bắn, hái lượm, nương rẫy. Công cụ sản xuất thô sơ với chiếc xà gạc, cái cây chọc lỗ, tra hạt… nền sản xuất mang tính chất khép kín tự cung tự cấp. Hình thức trao đổi, phân phối sản phẩm chủ yếu bằng hiện vật, mang tính bình quân. Với lối sống du canh du cư, đốt rừng làm rẫy, việc no, đói phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên và xem đó như là sự ban phát của tự nhiên. Vì thế, trong xã hội Ê Đê cổ truyền, đời sống hiện thực của con người gắn chặt với tín ngưỡng tâm linh. Họ tin vào lực lượng siêu nhiên, các vị thần ở 3 tầng thế giới: Trời, mặt đất và trong lòng đất, và đặt ra hàng loạt những lễ thức cầu xin sự trợ giúp của các đấng thần linh để đạt được những ước nguyện của mình: mùa màng tươi tốt, tránh được hoạn nạn, buôn làng có nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Tính chất nền sản xuất, thiết chế gia đình, tín ngưỡng đã hình thành nên bản sắc văn hóa của người Ê Đê, trong đó có văn hóa pháp lý được thể hiện trong luật tục của họ1.

Mặc dù cuộc sống còn hoang sơ, nhưng sự hình thành luật tục của người Ê Đê đã phản ánh nhu cầu khách quan là: cần quản lý, phối hợp và điều chỉnh những mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng để duy trì sự tồn tại và phát triển. Trong quá trình đó, luật tục đã dần dần được hình thành từ những kinh nghiệm được chắt lọc qua cuộc sống của nhiều thế hệ, góp phần tạo nên các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc, cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức, pháp lý theo quan niệm của người Ê Đê.

* Về cơ cấu của luật tục: Dựa vào 236 điều của luật tục đã được L. Sabatier2 sắp xếp thành 11 chương ta thấy: Nếu so sánh với một số bộ luật của các quốc gia phương Đông và phương Tây thời kỳ cổ đại khi những nước này mới thoát ra khỏi xã hội Công xã thị tộc như: Luật Hammurabi (Lưỡng Hà), Luật Manu (Ấn Độ), Luật 12 bảng (La Mã), thì Luật tục của người Ê Đê có những điểm tương đồng. Đó là không có sự phân định rõ ràng giữa các quy phạm điều chỉnh những quan hệ dân sự và những hành vi phạm tội. Điều này xuất phát từ một thực tế là do trình độ sản xuất thấp kém nên những quan hệ dân sự trong cộng đồng người Ê Đê còn rất mờ nhạt, đặc biệt là quan hệ trao đổi hàng hóa (mua bán, vay mượn), chỉ được quy định trong 6 điều, từ điều 186 đến điều 191 với nội dung rất đơn giản. Số lượng điều luật chiếm nhiều nhất và cũng chặt chẽ nhất là những điều luật quy định về Hôn nhân và gia đình (54 điều), đó là nhóm quan hệ xã hội rường cột nhất chi phối đời sống của từng cá nhân trong cộng đồng. Có thể thấy rằng, luật tục đã rất xem trọng yếu tố con người trong mối tương quan với thế giới tự nhiên, với cộng đồng và tín ngưỡng. Thứ đến là vấn đề sở hữu tài sản, được quy định trong 38 điều, nhưng đó là tài sản của gia đình mẫu hệ. Mọi của cải trong gia đình đều thuộc quyền quản lý của mẹ hay người đại diện cho mẹ là chị cả. Việc thừa kế tài sản cũng được tính theo dòng mẹ. Một phần của cải của người chồng đã chết cũng phải đem trả về cho mẹ hay chị em gái của anh ta (điều 182). Nhóm những điều luật chiếm vị trí thứ 3 về số lượng với 33 điều quy định mối quan hệ giữa người đứng đầu buôn với các thành viên, nhằm đảm bảo kỷ cương, đảm bảo quyền dân chủ, bình đẳng trong quan hệ cộng đồng buôn làng.

* Về nội dung của luật tục Ê Đê: Như các tác giả trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm luật tục đã nhận định: Luật tục ở mức độ nào đó chỉ mới bó hẹp trong phạm vi một buôn3. Nhưng luật tục Ê Đê đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống, từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, gia đình và quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ đến lễ nghi, tín ngưỡng…

Luật tục đã phản ánh tư duy duy lý dân gian của người Ê Đê trong quá trình tồn tại và phát triển. Những khuôn khổ, cách thức sống được đặt ra không đơn thuần là sự nhận thức cảm tính mà đã được định hình bằng những lý lẽ được coi như chân lý mà ai cũng phải nghe theo, không còn sự lựa chọn nào khác. Ví dụ như: Trong gia đình con cái phải nghe theo lời cha mẹ, ngoài cộng đồng mỗi thành viên phải nghe theo lời của trưởng buôn, ai làm trái với điều ấy phải đưa ra xét xử, đó là quy tắc. Những lý lẽ đưa ra để thuyết phục người ta cần phải xử sự theo quy tắc đó là:

“Có cây đa thì phải hỏi cây đa, có cây sung thì phải hỏi cây sung, có mẹ cha thì phải hỏi mẹ cha.

Kẻ như lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao, là một trẻ nít lại muốn khôn ngoan hơn người lớn; có mẹ, có cha mà không hỏi mẹ cha.

Có cây đa đầu suối, có cây sung đầu làng, người trông nom dân làng mà không hỏi.

Hắn đi rừng lấy củi mà không hỏi cha, đi suối lấy nước mà chẳng nói với mẹ; bán cái này, mua cái nọ mà không hỏi các ông già bà cả.

Như vậy là có chuyện sai lầm phải đưa ra xét xử (Điều 27).

Những lý lẽ ấy đã được bắt nguồn từ chính cuộc sống hiện thực mà con người không thể phủ nhận, tạo cho họ niềm tin và dẫn dắt họ trong cuộc sống.

Xuyên suốt 236 điều trong luật tục là tính cộng đồng với tinh thần bình đẳng, dân chủ, bác ái. Dù là việc xảy ra trong một gia đình, một dòng họ như: kết hôn, sinh tử… mọi người vẫn ghé vai gánh vác xem như đó là công việc chung. Cho đến những việc như sửa sang bến nước, tế lễ thần linh hoặc hệ trọng hơn như bảo vệ an ninh cho buôn làng, các chủ hộ đều được chủ làng, chủ bến nước mời tới bàn bạc và đóng góp. Trẻ mồ côi, người thiếu ăn, bệnh hoạn, đều được mọi người nâng đỡ, chở che. Lối sống dân chủ, bác ái ấy đã gắn bó con người lại với nhau, mỗi người, mỗi nhà đều tự coi là một thành viên không thể rời xa cộng đống. Luật tục đã quy định rất rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân, của cá nhân với cộng đồng, đồng thời cũng nêu rõ trách nhiệm của thân tộc đối với mỗi thành viên trong dòng họ, nhằm mục đích tạo nên sự bình đẳng giữa các thành viên. Không có sự phân biệt, ưu đãi tầng lớp trên, hoặc ngược đãi tầng lớp dưới trong mọi lĩnh vực của đời sống buôn làng.

* Về cơ chế điều chỉnh của luật tục: Luật tục được hình thành và tồn tại trong đời sống của người Ê Đê đã đáp ứng được nhu cầu khách quan mà bất kỳ một cộng đồng người nào, một thiết chế xã hội nào cũng cần đến, đó là nhu cầu về quản lý. Nhưng do phương thức sản xuất còn ở trình độ thấp nên nhu cầu quản lý cũng như tính chất của hoạt động quản lý còn khá đơn giản, vì thế nên luật tục có cơ chế điều chỉnh riêng của nó. Bằng nhiều cách thức như: giáo dục, răn đe, xử phạt, luật tục đã tác động đến nhận thức và hành vi của các thành viên trong cộng đồng, tạo nên một trật tự cần thiết cho các hoạt động chung như: tổ chức sản xuất, bảo vệ buôn làng… và bảo vệ lợi ích của từng cá nhân, từng dòng họ. Nhưng vượt lên trên các phương pháp cụ thể ấy là nguyên tắc tự quản kết hợp với những quan niệm về tín ngưỡng.

Cuộc sống của người Ê Đê gắn bó chặt chẽ với thế giới tự nhiên, chan hòa với thế giới tự nhiên. Họ lấy từ tự nhiên những sản vật phục vụ cho nhu cầu của mình. Dựa vào mặt trời, mặt trăng để định đơn vị thời gian: Ngày đêm (mặt trời), tháng (mặt trăng), năm (mùa rẫy, mùa hoa, mùa chim bay về và bay đi). Tuy vậy, con người vẫn thấy bất lực trước thiên nhiên, vũ trụ bao la. Những tai họa cứ bất thần ập đến, tàn phá cây trồng, giết hại người và gia súc… con người trở nên nhỏ bé, yếu ớt và họ tìm chỗ dựa tinh thần bằng việc tưởng tượng ra các vị thần linh, và tin rằng chỉ có các vị thần ấy mới có sức mạnh hơn con người. Thần Aê Điê là thần tối cao trông coi cả 3 thế giới: tầng trời, mặt đất và tầng dưới đất; các thần thời tiết: Yang Liê (bão tố), Yang Briêng (thần tai nạn)… mỗi thần đều có tác động nhất định đến con người. Mùa màng bị tàn phá là do sự trừng phạt của thần ác đối với con người. Khi được mùa là do thần thiện ưu ái với con người. Và để các vị thần vừa lòng mà ra tay giúp đỡ, hay ngưng lại sự trừng phạt, con người phải tổ chức những lễ nghi cầu khấn, suy tôn. Sự gắn bó con người với các vị thần linh đã hình thành nên cơ chế tự điều chỉnh, con người cảm thấy có một lực lượng vô hình luôn kiểm tra, theo dõi và uốn nắn hành vi của họ. Vì thế mà mỗi cá nhân, mỗi gia đình, dòng họ đều tự răn mình và giáo dục các thành viên khác điều chỉnh hành vi theo quy định của luật tục, ngăn chặn những hành vi làm thương tổn đến lợi ích của người khác và của cộng đồng, hướng con người tới các điều thiện. Khi các cá nhân không tự điều chỉnh và có sự vi phạm luật tục hoặc có những mâu thuẫn, xung đột với nhau mà không tự giải quyết được thì sẽ có sự can thiệp của cộng đồng bằng một thiết chế có tính quyền lực – Tòa án phong tục. Trong mỗi buôn Ê Đê đều có những Khoa phat kđi – là người am hiểu và thông thuộc luật tục, có uy tín trong buôn làng (thường là các già làng) – đứng ra giải quyết các mâu thuẫn, xung đột. Trong xử kiện, Khoa phat kđi đọc luật tục (bằng văn vần) và sử dụng các biện pháp của nghi thức cổ truyền, rồi sau đó phán xử như một ông chánh án được tín nhiệm tuyệt đối. Khi mỗi bên nguyên, bên bị đã được xét xử xong, bao giờ cũng kèm theo một nghi lễ nhằm chấm dứt những thù oán giữa các bên với sự chứng giám của các vị thần linh và dân chúng. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là, những điều ghi trong luật tục cũng như cách giải quyết của tòa án phong tục chủ yếu là hòa giải, giáo dục hơn là kết tội, trừng phạt. Ngay cả khi một người bị quy tội thì biện pháp trừng phạt thực chất vẫn là một hình thức hòa giải, giáo dục. Hiện nay, Tòa án phong tục chỉ còn có ở những vùng xa các đô thị, xa các trục lộ giao thông chính. Những nơi không còn tòa án phong tục thì thay vào đó là nhóm, tổ hòa giải để giải quyết các mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong buôn trên cơ sở luật tục, mà biện pháp chính vẫn là hòa giải, giáo dục, răn đe. Chỉ khi nào Tổ hòa giải không xử lý được thì vụ việc mới được chuyển lên Tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh. Sự vận hành như vậy của luật tục vào đời sống xã hội thật đơn giản. Nó khác với cơ chế điều chỉnh p của Nhà nước được kết hợp bởi nhiều yếu tố và quy trình pháp lý khá phức tạp. Nhưng chính từ cơ chế điều chỉnh đơn giản ấy của luật tục mà các thành viên trong cộng đồng gắn bó với nhau hơn và đó là cơ sở xã hội làm cho luật tục tồn tại lâu dài.

* Về ngôn ngữ diễn đạt: Trong văn học dân gian truyền thống của người Ê Đê, lời nói vần Duê là một hình thức ngôn từ đặc biệt và phổ biến trong văn chương truyền miệng Ê Đê như tục ngữ, truyện cổ, trường ca, thần thoại, dân ca. Lời nói vần là sự chắt lọc tinh túy từ những tri thức, kinh nghiệm dân gian. Trong giao tiếp, người ta vẫn thường xen vào những câu nói vần như để làm chuẩn mực đối chiếu xã hội. Trong luật tục, những câu nói vần được gọi là Duê Kđi. Nó giống như khẩu ngữ hàng ngày với cách nói ví von, so sánh, hình tượng nhưng cũng rất cụ thể, cách dùng ngoa ngữ để khẳng định điều muốn nói. Nhưng Duê Kđi có tính chất thiêng liêng hơn vì được coi như những câu nói của ông bà tổ tiên, của các thần linh đã để lại cho con cháu.

Ví dụ như để trừng phạt những kẻ có hành vi bịa đặt, vu cáo cho người khác về những điều không có thực, luật tục đã mô tả hành vi đó như sau:

“Hắn bịa chuyện vu khống cả kẻ sang, người giàu.

Hắn nói, họ như một cây gạo đã rỗng ruột, như một cái cối đã thủng đáy trong khi chẳng có tí gì như vậy cả.

Có những chàng trai trong làng, những cô gái ngây thơ, những người Mnông, người Bih chất phác thật thà, đã bị hắn đổ cho là đã đi vào bụi vào bờ (lén lút) ăn thịt bò, thịt trâu (đã đánh cắp)…”

Có thể thấy, ngôn ngữ trong luật tục hầu hết là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể, sinh động. Những hình ảnh ấy vừa cô đọng, sâu sắc, vừa giản dị, dễ nhớ, dễ lưu truyền làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung và nhận thức bằng trực giác mà không cần đến một sự giải thích nào khác. Với ngôn ngữ ấy, Luật tục đã phản ánh thế giới tự nhiên và đời sống của con người rất cụ thể, được các thành viên trong cộng đồng tiếp nhận và lưu giữ dễ dàng.

Mặc dù luật tục Ê Đê mới chỉ đề cập đến những quan hệ xã hội trong phạm vi hẹp của một cộng đồng người mà phương thức sản xuất chưa phát triển, nhưng nó đã khẳng định sự tồn tại của một cộng đồng người có tổ chức, có kỷ cương mà những khuôn mẫu ấy đã vượt lên trên những tập quán thông thường.

Nghiên cứu văn hóa pháp lý của luật tục nói chung và luật tục Ê Đê nói riêng phần nào giúp chúng ta tìm được cơ chế thích hợp cho việc áp dụng pháp luật thực định vào đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN trong điều kiện nước ta hiện nay, khi các vùng dân cư vẫn còn sự khác biệt về kinh tế và văn hóa.

16:44 | Posted in , | Read More »